Bộ Tài chính giải đáp vướng mắc về lĩnh vực thuế

(eFinance Online) - Vừa qua, Bộ Tài chính nhận được văn bản đề nghị của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam xung quanh vấn đề đánh giá lại nguyên nhân dẫn đến giá thép xây dựng tăng cao, đồng thời rà soát, đánh giá toàn diện tác động của việc điều chỉnh thuế với phôi thép, xây dựng phương án điều chỉnh phù hợp; xem xét bỏ quy định nộp thuế VAT đối với vải trong nước sử dụng may xuất khẩu thay vì phải nộp thuế trước rồi hoàn sau như quy định.
Bộ Tài chính đang nghiên cứu, rà soát để có mức thuế suất phù hợp đối với mặt hàng phôi thép. Ảnh minh họa - nguồn: internet,
Bộ Tài chính đang nghiên cứu, rà soát để có mức thuế suất phù hợp đối với mặt hàng phôi thép. Ảnh minh họa - nguồn: internet,

Rà soát, nghiên cứu để đề xuất thuế xuất khẩu phôi thép phù hợp

VCCI vừa có văn bản góp ý dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 57/2020 về biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan. VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá lại nguyên nhân dẫn đến việc giá thép xây dựng tăng cao, đồng thời rà soát, đánh giá toàn diện tác động của việc điều chỉnh thuế với phôi thép, từ đó xây dựng phương án điều chỉnh phù hợp. 

Về vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/4/2016 và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP, thuế xuất khẩu được áp dụng chủ yếu đối với những mặt hàng là tài nguyên, khoáng sản không tái tạo cần giữ lại cho sản xuất trong nước. Mức thuế xuất khẩu được xây dựng dựa theo nguyên tắc áp dụng mức cao đối với nguyên liệu, tài nguyên ở dạng thô và giảm dần đến các sản phẩm có mức độ chế biến cao hơn nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên chưa qua chế biến. Theo nguyên tắc này, mức thuế xuất khẩu đối với nhóm nguyên liệu thô để sản xuất thép (quặng, thép phế liệu) hiện nay đã được quy định sở bằng mức trần khung thuế xuất khẩu (40% đối với quặng và 15-17% đối với phế liệu). Riêng mặt hàng phôi thép (thép thô), đây là bán thành phẩm được sản xuất từ quặng và thép phế liệu nên mức thuế suất thuế xuất khẩu đang được quy định là 0%.

Theo Bộ Công Thương, năm 2021, phôi thép các loại trong nước sản xuất dự kiến đạt khoảng 21,2 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và dành cho xuất khẩu. Số liệu của Hiệp hội Thép cho thấy năm 2020, xuất khẩu phôi thép đạt khoảng 4 triệu tấn và trong 6 tháng đầu năm 2021 là 1,7 triệu tấn (giảm 9% so với cùng kỳ). Năm 2020, hai doanh nghiệp sản xuất phôi thép xuất khẩu lớn nhất là Tập đoàn Hòa Phát xuất khẩu 1,65 triệu tấn và Công ty Formosa xuất khẩu 1,48 triệu tấn, chiếm hầu hết sản lượng phôi xuất khẩu của cả nước.

Để đạt được sản lượng và mức đầu tư ngành phôi thép như hiện nay, Chính phủ đã có nhiều giải pháp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất như áp dụng chính sách thuế (thuế xuất khẩu 0%), áp dụng thuế nhập khẩu và thuế phòng vệ thương mại để hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu. Theo đó, ngành thép từng bước tự chủ được công nghệ và năng lực sản xuất phôi thép, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất thép xây dựng trong nước và xuất khẩu được ra nước ngoài.

Việc tăng giá phôi thép thời gian qua theo đánh giá của Bộ Công Thương và Hiệp hội Thép chủ yếu do giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới tăng cao và sản xuất phôi thép trong nước phần lớn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là quặng sắt và thép phế liệu. Trên 90% quặng để sản xuất phôi trong nước hiện nay là từ nhập khẩu.

Về sản lượng sản xuất, theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong nước sản xuất phôi thép đang dư thừa công suất. Theo đó, nhiều ý kiến cho rằng việc đặt vấn đề tăng thuế xuất khẩu phôi thép sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến ngành sản xuất phôi thép do dư thừa công năng, làm gia tăng hàng tồn kho. Nguồn cung phôi thép sản xuất trong nước đang dư nên việc tăng thuế xuất khẩu phôi thép cũng chưa hẳn sẽ góp phần làm giảm giá thành thép thành phẩm. Để thúc đẩy ngành thép phát triển bền vững, hạn chế việc khai thác nguồn điện giá rẻ để sản xuất phôi thép cần phải có các giải pháp tổng thể khác.

Do đó, trên cơ sở ý kiến của Bộ Công Thương, VCCI, Hiệp hội Thép và các doanh nghiệp sản xuất thép nêu trên, Bộ Tài chính đang nghiên cứu, rà soát để có mức thuế suất phù hợp đối với mặt hàng phôi thép.

Thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng vải 10% 

Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) đã kiến nghị Chính phủ, bộ, ngành một loạt vấn đề gỡ khó cho ngành Dệt may, trong đó có việc xem xét bỏ quy định nộp thuế VAT đối với vải trong nước sử dụng may xuất khẩu thay vì phải nộp thuế trước rồi hoàn sau như quy định.

Theo Bộ Tài chính, Luật thuế giá trị gia tăng hiện hành quy định 03 mức thuế suất là 0%, 5% và 10%, trong đó mức thuế suất 0% chỉ áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu theo thông lệ quốc tế. Theo quy định hiện hành thì thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng vải là 10%. Doanh nghiệp trả thuế giá trị gia tăng 10% khi mua vải trong nước, khi xuất khẩu sản phẩm được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% và được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu theo hàng hóa, dịch vụ và không có quy định ưu đãi riêng theo đối tượng doanh nghiệp. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Việc bỏ quy định nộp thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp sử dụng vải trong nước để sản xuất xuất khẩu hoặc quy định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng vải mua trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu sẽ làm giảm tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng do doanh nghiệp bán vải trong nước sẽ không được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và có thể làm tăng giá bán của mặt hàng vải, đồng thời chưa phù hợp với quy định của Luật thuế giá trị gia tăng.

Do đó, Bộ Tài chính đề nghị doanh nghiệp thực hiện theo quy định hiện hành và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ làm thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của sản phẩm xuất khẩu.

Tình hình gia hạn thuế, tiền thuê đất theo Nghị định 52/2021/NĐ-CP

Bộ Tài chính cho biết, căn cứ trên số liệu hệ thống TMS, kết quả thực hiện gia hạn theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP của Chính phủ lũy kế đến 24/8/2021 như sau: Tổng số đơn đề nghị gia hạn là 139.032, trong đó doanh nghiệp, tổ chức 119.557, cá nhân 19.475.

Tổng số thuế, tiền thuê đất được gia hạn: 72.744 tỷ đồng. Trong đó, thuế GTGT tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6, tháng 7, Quý 1, Quý 2/2021 của doanh nghiệp, tổ chức: 40.652  tỷ đồng, trong đó, tháng 3 là 7.582 tỷ đồng, tháng 4 là 7.032 tỷ đồng, tháng 5 là 6.167 tỷ đồng, tháng 6 là 7.023 tỷ đồng, tháng 7 là 4.557 tỷ đồng, quý 1 là 3.943 tỷ đồng, quý 2 là 4.334 tỷ đồng. Tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Quý 1, Quý 2/2021 của doanh nghiệp, tổ chức được ước tạm tính bằng 40% số thuế TNDN phát sinh phải nộp theo quyết toán thuế TNDN năm 2020 và bằng 29.550 tỷ đồng. Thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân của hộ, cá nhân kinh doanh được gia hạn: 301 tỷ đồng. Tiền thuê đất: 2.269 tỷ đồng.

Quang Minh

 

Tin cùng chuyên mục