Diễn biến thị trường, giá cả: Nhìn lại 2018, dự báo 2019

(eFinance Online) - Năm 2018, Quốc hội đề ra các chỉ tiêu kinh tế xã hội hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng; trong đó, mục tiêu lạm phát đặt ra ở mức khoảng 4%. Theo đó, công tác quản lý, điều hành giá năm 2018 được đánh giá có nhiều thách thức, khó khăn, nhất là khi mặt bằng giá cả trong nước chịu áp lực lớn ngay từ nửa đầu năm từ các yếu tố thị trường khách quan như giá thịt lợn phục hồi và tăng cao khoảng giữa năm, giá lương thực tăng theo nhu cầu xuất khẩu, giá các mặt hàng nhiên liệu liên tục biến động…
Tại hội thảo diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo năm 2019 do Viện Kinh tế tài chính tổ chức ngày 03/01/2019, chuyên gia kinh tế cho rằng, năm 2018 kinh tế tăng trưởng cao và lạm phát thấp. Ảnh: QM.
Tại hội thảo diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo năm 2019 do Viện Kinh tế tài chính tổ chức ngày 03/01/2019, chuyên gia kinh tế cho rằng, năm 2018 kinh tế tăng trưởng cao và lạm phát thấp. Ảnh: QM.

Lạm phát nằm trong mục tiêu quản lý điều hành

Theo Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), CPI bình quân năm 2018 sát với các dự báo, kịch bản điều hành giá đã được Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành trình Chính phủ ngay từ đầu năm; diễn biến mặt bằng giá nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ. CPI các tháng đầu năm biến động theo hướng tăng dần qua các tháng từ mức 2,65% (tháng 1) dần tới mức 3,01% (bình quân 5 tháng), tăng với tốc độ nhanh hơn trong 2 tháng tiếp theo lên mức 3,45% (bình quân 7 tháng) và dần ổn định trong khoảng 3,5-3,6% trong các tháng cuối năm; CPI bình quân cả năm 2018 ước tăng khoảng 3,55%.

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2018 chịu tác động của một số yếu tố làm gia tăng sức ép lên mặt bằng giá mang tính quy luật hàng năm và đã nằm trong dự báo như: giá cả một số mặt hàng tăng cao vào dịp lễ, Tết và nhanh chóng giảm về bình thường trong thời gian sau Tết; biến động tăng cao của giá xăng dầu thế giới trong các tháng quý 3, giá thịt lợn hồi phục trong quý 2 và ổn định ở mức cao trong quý 3, giá LPG tăng theo diễn biến giá thế giới, giá vật liệu xây dựng tăng trong quý 3 và quý 4…

Tuy nhiên, cũng có những yếu tố làm giảm sức ép lên mặt bằng giá như: việc điều hành giảm giá dịch vụ khám chữa bệnh trong tháng 7/2018; giá xăng dầu, LPG giảm mạnh trong quý 4, mặt hàng lương thực, thực phẩm luôn đảm bảo do nguồn cung dồi dào; cùng với đó là việc tổ chức triển khai đồng bộ các biện pháp điều hành giá một số hàng hóa quan trọng thiết yếu phù hợp với thực tế phát sinh trong năm…

Cục Quản lý giá cho rằng, công tác chỉ đạo, điều hành giá năm 2018 đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. Trong điều kiện tình hình kinh tế quốc tế có nhiều biến động tác động đến thị trường tài chính, tiền tệ, hàng hoá thế giới và trong  nước, Bộ Tài chính đã chủ động tham mưu cho Chính phủ các biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng. Lạm phát năm 2018 đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra ở mức dưới 4% và ổn định ở mức thấp; cung cầu thị trường được đảm bảo; điều hành giá nhất quán theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

PGS.TS Ngô Trí Long, Chuyên gia kinh tế nhận định: Năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu từ việc tăng giá lương thực, thực phẩm, xăng dầu và yếu tố điều hành giá qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Mức tăng lạm phát cơ bản trong năm 2018 so với cùng kỳ có biên độ dao động trong khoảng từ 1,18% đến 1,72%, lạm phát cơ bản bình quân năm tăng 1,48% thấp hơn mức kế hoạch 1,6%, cho thấy chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định. Nền kinh tế bước đầu hoạt động có hiệu quả, thành công “mục tiêu kép” là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội.

Theo TS Vũ Đình Ánh, Viện Kinh tế Tài chính: Rõ ràng bài học về điều hành thị trường giá cả tránh tăng giá dồn dập trong thời gian ngắn, kết hợp tốt các yếu tố khách quan và chủ quan trong điều chỉnh tăng giá viện phí và học phí theo lộ trình rất quan trọng cho nửa cuối năm 2018 và các năm tiếp theo. CPI hàng tháng năm 2018 đã không biến động quá mức như năm 2017. Thị trường quốc tế không có biến động quá bất thường trong năm 2018 và chỉ số xuất nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục tạo thuận lợi cho việc kiềm chế lạm phát cả năm 2018. Lạm phát năm 2018 vẫn hoàn toàn nằm trong mục tiêu quản lý điều hành và là kết quả đáng ghi nhận.

Góp phần vào kiềm chế lạm phát thành công, ông Phạm Minh Thụy, Viện Kinh tế Tài chính cho rằng: Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bình ổn giá cả thị trường. Trong đó, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ, tập trung vào những nội dung chính như: Chủ động điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất phù hợp; kết hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, đảm bảo kỷ luật tài chính ngân sách ở tất cả các ngành, các cấp. Tập trung giải quyết hiệu quả bài toán phân bổ hợp lý nguồn lực trên phạm vi cả nước, từng ngành, vùng, địa phương… Thực hiện lộ trình giá thị trường để tiến tới không bao cấp giá điện và các dịch vụ giáo dục, y tế gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, người nghèo. Thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nền tảng vi mô vững chắc cho ổn định vĩ mô…

Kiểm soát lạm phát khoảng 4% có thể đạt trong 2019

TS. Lê Quốc Phương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) nhận định, trong 12 chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2019 có chỉ tiêu “tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%”, chỉ tiêu này có thể đạt được bởi các yếu tố thuận lợi sau: CPI các năm gần đây thấp dưới 4% (2016-2018); lạm phát cơ bản các năm gần đây thấp dưới 2% (2016-2018); cung hàng hóa tương đối dồi dào không gây biến động lớn về giá; kinh tế vĩ mô ổn định tạo dư địa tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý; xuất siêu liên tục trong giai đoạn 2012-2018 (trừ năm 2015) giúp tỷ giá ổn định giảm áp lực lạm phát; dự trữ ngoại hối cao kỷ lục giúp Ngân hàng Nhà nước có công cụ ổn định tỷ giá giảm áp lực lạm phát. Tuy nhiên, cần tiếp tục thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô (được thực hiện từ 2011), kết hợp phục hồi tăng trưởng với việc nới lỏng tiền tệ và chính sách tài khóa ở mức độ hợp lý, phối hợp giữa các địa phương trong việc tăng giá dịch vụ công (y tế, giáo dục) tránh cộng hưởng giá (nhiều địa phương tăng cùng thời điểm), đảm bảo nguồn cung hàng hóa, tránh tăng giá đột biến, thực hiện bình ổn giá vào các dịp lễ lớn…

Cục Quản lý giá cho rằng, năm 2019, Quốc hội đã quyết định CPI ở mức khoảng 4% và để đạt được mục tiêu đó việc quản lý, điều hành giá cần tiếp tục thực hiện một cách thận trọng, linh hoạt, chủ động. Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến giá cả các mặt hàng thiết yếu để kịp thời đề xuất các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu nhằm bình ổn giá nhất là thời điểm các dịp lễ, tết. Đối với việc thực hiện lộ trình thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu, Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp giúp kiểm soát mặt bằng chung, hạn chế tác động của chi phí đẩy đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống của người dân.    

Để đạt được những kỳ vọng phát triển thể hiện ở dự kiến các chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ hướng tới, theo TSKH Nguyễn Thị Hiền, Chuyên gia kinh tế, gánh nặng lớn nhất của công tác điều tiết kinh tế vĩ mô nói chung, kiểm soát lạm phát nói riêng trong năm 2019 vẫn đặt lên vai ngành Tài chính và Ngân hàng. Khó khăn ở chỗ không đơn giản là những giải pháp nhằm giảm chi tiêu tài chính, giảm “cung” tiền, mà ngược lại vẫn phải chi cho các dự án bị đình hoãn và tăng giá các dịch vụ công, giá điện, tăng lương…

Theo ông Vũ Vinh Phú, Chuyên gia kinh tế, việc phấn đấu để đạt mức 4% đề ra trong năm 2019 hoàn toàn khả thi, với những điều kiện sau: Tạo nguồn cung hàng hóa dồi dào, không để mất cân đối trong từng thời kỳ trong năm, làm tốt công tác lưu thông phân phối. Về chi phí đẩy, những năm trước đây, chúng ta phụ thuộc 70% vào xăng dầu nhập khẩu, thì cuối năm 2018 khi đã có thêm nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Thanh hóa thì tỷ trọng đảm bảo nguồn cung trong nước đã lên tới 70%. Đây là điều kiện tiên quyết để chúng ta chủ động giảm bớt những áp lực về chi phí đẩy của một mặt hàng chiến lược cho sản xuất kinh doanh tiêu dùng. 

Kim Liên

Tin cùng chuyên mục