Bộ Tài chính phản hồi một số vấn đề dư luận xã hội, báo chí quan tâm

(eFinance Online) - Trong tháng 5/2021, Bộ Tài chính đã nhận được một số câu hỏi từ phóng viên, người dân, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính gồm: thuế, hải quan, chứng khoán, quản lý giá, hành chính sự nghiệp; để rộng đường dư luận Ban biên tập eFinance.vn đăng tải toàn văn phản hồi của Bộ Tài chính.
Ảnh minh họa - nguồn: internet.
Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Chính sách quản lý thuế

Nội dung 1: Hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên cho rằng, thông báo mới của Tổng cục Thuế tại Hội nghị trực tuyến ngày 18/3/2021 đang khiến 7.800 doanh nghiệp hoang mang khi đưa trường hợp “Công ty vay của ngân hàng thương mại với tỷ lệ trên 25% vốn chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn được xác định là các bên có quan hệ liên kết. Khi đó giao dịch phát sinh giữa 02 bên là giao dịch liên kết”. Nếu đưa ngân hàng và doanh nghiệp vào là giao dịch liên kết theo điểm d khoản 2 Điều 5 thì thực chất quy định này dường như chuyển hướng mục tiêu “chống vốn mỏng” đối với doanh nghiệp; chứ không phải nhằm mục tiêu chống chuyển giá; trái với tinh thần của Nghị định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết. 

Trả lời: Theo Quy định về giao dịch liên kết thì:

Quy định về xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay được quy định tại Thông tư số 117/2005/TT-BTC, Thông tư số 66/2010/TT-BTC, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP và Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.  Đây không phải là quy định mới về xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay. Nghị định số 20/2017/NĐ-CP và Nghị định số 132/2020/NĐ-CP còn nâng mức tỷ lệ cao hơn so với quy định tại Thông tư số 66 (từ 20% lên mức 25%). 

Khi xác định 02 doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết thì giao dịch phát sinh giữa 2 doanh nghiệp này là giao dịch liên kết và phải thực hiện kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định. Đồng thời nếu doanh nghiệp có giao dịch liên kết chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế sẽ áp dụng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP) và khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP. Do đó, đây không phải là quy định mới gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay.
Tuy nhiên, do nhiều doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu hoạt động bằng việc vay vốn ngân hàng với mức vốn vay lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu nên nhiều doanh nghiệp được xác định có mối quan hệ liên kết với doanh nghiệp là Ngân hàng khi vay vượt 25% vốn góp của chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng các khoản nợ trung và dài hạn. 

Định hướng trong thời gian tới: Qua triển khai thực hiện, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) cũng nhận được một số văn bản hỏi của các Cục Thuế về việc xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay trong đó có xác định mối quan hệ liên kết vay giữa doanh nghiệp với ngân hàng với mức vốn vay trên 25% vốn chủ sở hữu. Giao dịch xác định chi phí lãi vay với ngân hàng theo nguyên tắc giao dịch độc lập không phải là vướng mắc của doanh nghiệp mà vấn đề là ở việc khi xác định có quan hệ liên kết theo vốn vay với ngân hàng, doanh nghiệp và ngân hàng phát sinh giao dịch sẽ được xác định là giao dịch liên kết, chi phí lãi vay được trừ của doanh nghiệp sẽ áp dụng khống chế theo quy định của Nghị định.

Theo đó, việc xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nghiên cứu (có thể nâng mức cao hơn – không giữ ở 25% như hiện tại) để phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu bằng vốn vay.  
Tuy nhiên, việc nghiên cứu này cũng cần phải cân nhắc thêm do Nghị quyết Số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị đã đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “ … Nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng "vốn mỏng", chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng"….”

Tại buổi trao đổi với chuyên gia (dự án RARS) về vấn đề vốn mỏng có nên áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam hay không, chuyên gia cũng khuyến nghị, Việt Nam các doanh nghiệp thường vay nhiều, “mức thị trường” không phải là vay gấp 3->4 lần vốn chủ sở hữu mà có thể có thể tới 7->8 lần. Do đó cân nhắc khi đưa ra quy định về vốn mỏng áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp.

2. Nội dung 2: Ban Chỉ đạo chống thất thu ngân sách nhà nước TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc thu, chống thất thu ngân sách nhà nước năm 2021, trong đó có chuyên đề quản lý công tác thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở tại các chung cư, cao ốc. Trước mắt, chuyên đề này sẽ được thí điểm tại một số chung cư ở quận 11. Các chuyên gia tài chính ủng hộ việc thu thuế căn hộ, nhà ở cho thuê là chuyện bình thường, đã được ngành thuế thực hiện từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào để đúng quy định pháp luật, để thuận tiện cho người dân (chủ hộ), bảo đảm minh bạch và công bằng. Quan điểm của Bộ Tài chính về vấn đề này thế nào? 

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Theo quy định của Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu trở xuống không thuộc diện chịu thuế. Các trường hợp cá nhân có bất động sản cho thuê có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trên 8,3 triệu đồng/tháng) được xác định là đối tượng phải kê khai, nộp thuế.

Theo đó, việc thu thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở là thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành cũng như luật pháp của nhiều nước trên thế giới.

Trong thời gian tới, để những người cho thuê căn hộ, cho thuê nhà ở thuộc diện đóng thuế thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và xã hội được thuận lợi nhất, ngành thuế cũng sẽ đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi để người dân hiểu được việc đóng thuế khi cho thuê nhà ở là trách nhiệm và nghĩa vụ và phải nghiêm túc chấp hành.

3. Nội dung 3: Có ý kiến cho rằng, ngưỡng thuế cho thuê nhà hiện nay đang quá lạc hậu khiến nhiều người cho thuê nhà ấm ức. Mức doanh thu tính thuế 100 triệu đồng/năm không những đối với cho thuê nhà mà cả các lĩnh vực, ngành nghề khác cũng quá thấp. Bộ Tài chính cần chỉnh sửa quy định mức này có thể tăng lên 150 triệu đồng/năm và khi mức trượt giá tăng trên 20% thì điều chỉnh. Đồng thời cho phép người thuê nhà nói riêng cũng như cá nhân, hộ kinh doanh nói chung được khấu trừ chi phí trước khi tính doanh thu tính thuế… 

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Theo quy định của Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu trở xuống không thuộc diện chịu thuế. Các trường hợp cá nhân có bất động sản cho thuê có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trên 8,3 triệu đồng/tháng) được xác định là đối tượng phải kê khai, nộp thuế.

Theo quy định tại Biểu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính thì hoạt động cho thuê tài sản không kèm theo dịch vụ lưu trú chịu thuế 10% (GTGT 5%, TNCN 5%). Dịch vụ lưu trú không tính vào hoạt động cho thuê tài sản gồm: cung cấp cơ sở lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai; cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn cho sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự; cung cấp cơ sở lưu trú cùng dịch vụ ăn uống và các phương tiện giải trí. Dịch vụ lưu trú không bao gồm: cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn được coi như cơ sở thường trú như cho thuê căn hộ hàng tháng hoặc hàng năm được phân loại trong ngành bất động sản theo quy định của pháp luật về Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam. 

Như vậy mặc dù thuế suất đối với hoạt động cho thuê bất động sản ở mức cao hơn so với các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, nhưng đã loại trừ các hoạt động mang tính lưu trú, các hoạt động cho thuê đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội như sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự. Những trường hợp cho thuê bất động sản thuộc diện chịu thuế 10% đều được xác định là những trường hợp kinh doanh bất động sản (theo Luật kinh doanh bất động sản). Việc kinh doanh bất động sản theo hình thức cho thuê trong thời gian vừa qua mặc dù không bằng lãi tiết kiệm khi để tiền ngân hàng, khách hàng thuê không ổn định nhưng vẫn thu hút nhiều cá nhân có tiền nhàn rỗi hoặc tiền vay (nhưng khả năng trả nợ tiền vay tốt) đầu tư vào lĩnh vực này vì cái được lớn nhất là có được tài sản để dành - sở hữu lâu dài và tài sản đó có thể đem lại dòng tiền ổn định theo năm tháng, không bị mất giá, thậm chí là tài sản tích luỹ.

Việc đặt vấn đề tính toán các khoản chi phí cho hoạt động cho thuê bất động sản (tiền mua bất động sản, chi phí lãi vay, ...) là không phù hợp vì phải tính đến các yếu tố sở hữu bất động sản lâu dài, bất động sản có thể tăng giá trong tương lai. Đối với hoạt động cho thuê thông thường chỉ có thể tính đến các chi phí mang tính phát sinh thường xuyên trong thời gian cho thuê hoặc để phục vụ cho mục đích cho thuê (chi phí bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt thiết bị nội thất,....). Để xử lý vấn đề không được trừ chi phí hợp lý như nêu trên của cá nhân cho thuê bất động sản, chính sách thuế đã xây dựng mức thuế của cá nhân thấp hơn so với doanh nghiệp. Cụ thể: thuế GTGT của cá nhân là 5% trong khi của doanh nghiệp là 10%; thuế TNCN của cá nhân là 5% trong khi thuế TNDN của doanh nghiệp là 20% trên chênh lệch (doanh thu trừ (-) chi phí). 

Tuy nhiên, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) cũng thường xuyên lắng nghe, ghi nhận ý kiến của các chuyên gia và đang nghiên cứu để đề xuất với Bộ Tài chính xem xét báo cáo Chính phủ trình Quốc hội nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế trong chương trình sửa Luật thuế GTGT trong thời gian tới để phù hợp với tình hình thực tế.

Lĩnh vực hải quan

Nội dung 4: Vướng mắc của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) đối với Nghị định 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 

Trả lời: Nội dung vụ việc: Liên quan đến Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, một số báo phản ánh vướng mắc về quy định đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ để sản xuất hàng xuất khẩu: Doanh nghiệp nội địa xuất khẩu tại chỗ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu phải nộp thuế xuất khẩu cho sản phẩm xuất ra. Doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm tại chỗ cũng phải nộp thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ, sau đó xuất khẩu mới được hoàn tiền thuế nhập khẩu.

Ý kiến Bộ Tài chính:

- Về việc nộp thuế xuất khẩu đối với sản phẩm sản xuất xuất khẩu tại chỗ

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật Thuế xuất nhập khẩu số 107/2016/QH13 thì “Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ” thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật Thuế xuất nhập khẩu số 107/2016/QH13 thì“Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu” thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu. Theo đó, sản phẩm sản xuất xuất khẩu không được miễn thuế xuất khẩu. 

Khoản 24 Điều 16 Luật Thuế xuất nhập khẩu số 107/2016/QH13 giao “Chính phủ quy định chi tiết điều này”. Tại Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP không có quy định về miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm sản xuất xuất khẩu.

Khoản 6 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP quy định: “g) Sản phẩm xuất khẩu tại chỗ không được miễn thuế xuất khẩu”. 

Như vậy, nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu đối với sản phẩm sản xuất xuất khẩu tại chỗ là không thay đổi theo các quy định tại các văn bản (Luật Thuế xuất nhập khẩu số 107/QH13 ngày 01/9/2016), Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016, Nghị định số 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021).

- Về việc nộp thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ để sản xuất xuất khẩu 
Trong quá trình xây dựng Nghị định số 18/2021/NĐ-CP, quy định về chính sách thuế đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ của hàng hóa sản xuất xuất khẩu được Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan xem xét trên cơ sở các quy định pháp lý có liên quan đến sản phẩm nhập khẩu tại chỗ để gia công.

Đối với loại hình gia công (người nhận gia công là người làm thuê, nhận phí gia công theo 01 hợp đồng giữa bên thuê và bên nhận gia công; Tại Điều 43 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý ngoại thương có quy định về gia công chuyển tiếp: “1. Sản phẩm gia công của hợp đồng gia công này được sử dụng làm nguyên liệu gia công cho hợp đồng gia công khác tại Việt Nam; 2. Sản phẩm gia công của hợp đồng gia công công đoạn trước được giao cho thương nhân theo chỉ định của bên đặt gia công cho hợp đồng gia công công đoạn tiếp theo”. Nghị định số 18/2021/NĐ-CP quy định miễn thuế đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ để gia công nếu đáp ứng quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP. Nếu quy định thu thuế đối với sản phẩm gia công nhập khẩu tại chỗ thì doanh nghiệp nhận gia công cũng không có đủ nguồn tiền để trả đồng thời không phản ánh đúng bản chất của hoạt động gia công và không phù hợp với pháp luật về thương mại);

Đối với hàng hóa nhập khẩu sản xuất xuất khẩu: Pháp luật về quản lý ngoại thương không có quy định như hàng gia công; Hàng hóa nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu thuộc sở hữu của doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu; Doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu có quyền chủ động nguồn hàng để sản xuất kinh doanh. Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ khu phi thuế quan thì được miễn thuế nguyên liệu, vật tư nhập khẩu theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP. Trường hợp nhập khẩu tại chỗ từ doanh nghiệp nội địa thì nộp thuế nhập khẩu và được hoàn thuế khi xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài hoặc khu phi thuế quan theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.

Việc đưa quy định về chính sách thuế đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ để sản xuất sản phẩm xuất khẩu để xử lý các tình huống phát sinh trên thực tế và được nêu rõ tại Điều 10, Điều 12 (quy định về chính sách thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu nhằm đảm bảo tính minh bạch).

Mặt khác, trong quá trình dự thảo Nghị định 18/2021/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã lấy ý kiến các Bộ ngành, Hiệp hội và công khai dự thảo trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Tài chính và các đơn vị không có ý kiến tham gia về nội dung này.

Như vậy, doanh nghiệp nội địa phải nộp thuế đối với sản phẩm sản xuất khi xuất khẩu tại chỗ cũng như đối với trường hợp xuất khẩu ra nước ngoài. Doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ để sản xuất hàng xuất khẩu phải nộp thuế nhập khẩu. Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài, từ khu phi thuế quan thì được miễn thuế nhập khẩu. Doanh nghiệp được quyền lựa chọn nguồn hàng nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu.

Lĩnh vực chứng khoán

Nội dung 5: Có ý kiến cho rằng, theo Nghị định 155/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán, nhà đầu tư cá nhân muốn được công nhận là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp cần có chứng chỉ hành nghề chứng khoán còn hiệu lực, hoặc xác nhận của các công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán về giá trị thị trường của các danh mục chứng khoán niêm yết, chứng khoán đăng ký giao dịch tại thời điểm xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp… Do Nghị định quy định chung chung như trên nên theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp và công ty chứng khoán, rất khó để xác định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Nghị định cũng không quy định rõ nhà đầu tư phải lấy xác nhận mỗi năm một lần hay chỉ cần lấy 1 lần, dùng mãi mãi. 

Trả lời: Điều 11 của Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019 đã quy định khái niệm nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán chuyên nghiệp bao gồm cả NĐT tổ chức chuyên nghiệp và NĐT cá nhân chuyên nghiệp. Trong đó, NĐT cá nhân chuyên nghiệp (Điểm c, d, đ Khoản 1 Điều 11) được xác định như sau: 

“c) Người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán;

d) Cá nhân nắm giữ danh mục chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch có giá trị tối thiểu là 02 tỷ đồng theo xác nhận của công ty chứng khoán tại thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là NĐT chứng khoán chuyên nghiệp;

đ) Cá nhân có thu nhập chịu thuế năm gần nhất tối thiểu là 01 tỷ đồng tính đến thời điểm cá nhân đó được xác định tư cách là NĐT chứng khoán chuyên nghiệp theo hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế hoặc chứng từ khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân chi trả”.

Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán đã có hướng dẫn về cách thức xác định NĐT chuyên nghiệp tham gia mua chứng khoán khi thực hiện chào bán riêng lẻ, đăng ký lập quỹ thành viên hoặc ủy quyền cho công ty chứng khoán thực hiện xác định NĐT chứng khoán chuyên nghiệp, cụ thể tại Điều 4 - Xác định tư cách NĐT chứng khoán chuyên nghiệp và

Điều 5 - Tài liệu xác định NĐT chứng khoán chuyên nghiệp. 

Khoản 3 Điều 4 của Nghị định số 155/2020/NĐ-CP đã quy định thời hạn hiệu lực của xác nhận tư cách nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp là 1 năm. 

Đồng thời, ngày 18/5/2021, UBCKNN đã có Công văn số 2098/UBCK-PTTT gửi các công ty chứng khoán đề nghị hướng dẫn cho nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia giao dịch sản phẩm Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm.

Quản lý giá

Nội dung 6: Báo chí phản ánh: Không chỉ có giá sắt thép, xi măng, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi...mà một loạt phí dịch vụ vận tải biển, phí hàng không...cũng tăng và dọa tăng. Chuyên gia dự báo có thể “sờ thấy” nguy cơ lạm phát rất gần. Bộ Tài chính có ý kiến gì về nội dung này?

Trả lời: Những diễn biến tăng giá một số hàng hóa thiết yếu trong năm 2021 đã được Bộ Tài chính và các Bộ, ngành dự báo trong kịch bản điều hành giá và báo cáo Thủ tướng Chính phủ ngay từ cuối năm 2020. Một số mặt hàng có giá tăng do nguyên liệu đầu vào cũng như nhu cầu tăng như thức ăn chăn nuôi, vật liệu xây dựng (đặc biệt là giá thép), có mặt hàng tăng theo giá thế giới như xăng dầu. Đối với mặt hàng do Nhà nước định giá, thời gian vừa qua dịch vụ vận chuyển hàng không có sự điều chỉnh kết cấu chi phí trong giá, tuy nhiên việc điều chỉnh này phải bảo đảm mức giá vé máy bay vẫn trong khung giá do cơ quan có thẩm quyền nhà nước quy định. Tuy đây là áp lực lớn lên mặt bằng giá trong nước nhưng đây là nhân tố đã được tính toán trong các kịch bản điều hành giá nên cũng đã có giải pháp để chủ động điều hành giá trong nước nhằm kiểm soát lạm phát cả năm 2021 bình quân ở mức dưới 4%. 

Theo ước tính của Bộ Tài chính, nếu giả định CPI các tháng còn lại tăng đều một tỷ lệ như nhau thì trong những tháng còn lại, CPI mỗi tháng vẫn còn nhiều dư địa (theo tính toán phân tích dự báo của Cục thì dư địa tăng 0,84% mỗi tháng) để đảm bảo mục tiêu kiểm soát dưới 4%. Do vậy, có thể thấy nếu không có những yếu tố quá đột biến xảy ra, việc kiểm soát CPI bình quân cả năm 2021 ở mức khoảng 4% là vẫn trong tầm kiểm soát của Chính phủ, của Ban Chỉ đạo điều hành giá. Tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn rủi ro đối với công tác kiểm soát lạm phát đến từ tình hình thế giới như giá nhiên liệu, phôi thép, thép phế thế giới có thể diễn biến tăng cao đột biến, giá xăng dầu tiếp tục tăng tác động làm giá trong nước tăng theo; bên cạnh đó, dịch bệnh diễn biến phức tạp có thể tác động làm tăng giá cục bộ một số mặt hàng tại một số địa phương làm ảnh hưởng tâm lý chung, căng thẳng thương mại tại các quốc gia, nhất là Mỹ - Trung Quốc, căng thẳng địa - chính trị tại nhiều vùng lãnh thổ. 

Để thực hiện việc kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra đề ra, trong thời gian còn lại của năm 2021, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành báo cáo Thủ tướng Chính phủ diễn biến mặt bằng giá những tháng đầu năm và đề xuất giải pháp điều hành giá những tháng còn lại. Theo đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã có ý kiến chỉ đạo tại văn bản số 3025/VPCP-KTTH ngày 08/5/2021 về công tác quản lý, điều hành giá trong đó đã đề các các biện pháp và giao trách nhiệm cho các Bộ, ngành, địa phương thực hiện công tác quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát năm 2021 một cách thận trọng, linh hoạt và chủ động, tập trung vào việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ, vừa giữ ổn định mặt bằng giá để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, vừa hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Phó Thủ tướng cũng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ quản lý ngành trong điều hành giá các mặt hàng cụ thể trong đó có việc quản lý giá thép, xăng dầu, dịch vụ hàng không, dịch vụ y tế, sách giáo khoa, đất đai, bất động sản...

Hành chính sự nghiệp

Nội dung 7: Thông tin về tổng kinh phí đã chi mua vắc xin; mua sắm các vật tư, hóa chất, sinh phẩm và trang thiết bị y tế cần thiết phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Trả lời: a) Kinh phí phòng, chống dịch Covid-19:
Đối với năm 2020: Tổng số kinh phí đã bổ sung từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để hỗ trợ các bộ, ngành địa phương là 4.056 tỷ đồng.

Năm 2021: Tổng số kinh phí đã bổ sung từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương là 823 tỷ đồng, trong đó, số đã bổ sung cho các Bộ là 505,853 tỷ đồng, bao gồm: Bộ Quốc phòng 2,165 tỷ đồng để hỗ trợ bộ đội biên phòng tăng cường công tác phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên Đán Tân Sửu 2021; Bộ LĐTBXH 0,788 tỷ đồng để thực hiện chế độ đặc thù phòng, chống dịch, hỗ trợ tiền ăn cho người bị cách ly và Bộ Y tế là 502,9 tỷ đồng để mua sắm vật tư, hóa chất, sinh phẩm, trang thiết bị phòng chống dịch.

b) Kinh phí NSTW bố trí để mua và tiêm vắc xin phòng Covid-19:
Tại Tờ trình số 104/TTr-CP ngày 02/4/2021 về phương án sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của NSTW năm 2020, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội nguồn kinh phí dự kiến mua và tiêm vắc-xin phòng Covid-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng (mua vắc-xin khoảng 21 nghìn tỷ đồng; vận chuyển, bảo quản, phân phối, tổ chức tiêm khoảng 4,2 nghìn tỷ đồng), trong đó NSTW bảo đảm cho các đối tượng do trung ương quản lý và hỗ trợ các địa phương khó khăn khoảng 16.000 tỷ đồng, NSĐP chi và huy động đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức khoảng 9.200 tỷ đồng.

Cụ thể:
- NSTW gồm: (i) 13,33 nghìn tỷ đồng: chuyển nguồn từ năm 2020 sang năm 2021 (12,1 nghìn tỷ đồng tiết kiệm chi NSTW năm 2020 và 1,237 nghìn tỷ đồng đã bổ sung cho Bộ Y tế năm 2020 nhưng chưa sử dụng nay chuyển nguồn sang năm 2021); (ii) phần còn lại từ dự phòng NSTW năm 2021 (bước đầu Thủ tướng Chính phủ đã bổ sung 1.237 tỷ đồng cho Bộ Y tế theo Quyết định số 507/QĐ-TTg ngày 31/3/2021).

- Ngày 18/5/2021, UBTVQH ban hành Nghị quyết số 1271/NQ-UBTVQH14 về việc sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của NSTW năm 2020, trong đó tại Điều 1 sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của NSTW năm 2020: “sử dụng 12.100 tỷ đồng nguồn tiết kiệm chi năm 2020 để mua vắc xin phòng dịch Covid-19”.

Như vậy, đến nay, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền đảm bảo nguồn lực để triển khai việc mua vắc xin theo đề xuất của Bộ Y tế.

c) Về kinh phí đã chi: Đến nay, NSNN đã chi hơn 8 nghìn tỷ đồng để thực hiện các chính sách phòng, chống dịch Covid-19, trong đó riêng NSTW đã chi hơn 6,1 nghìn tỷ đồng để bổ sung cho các Bộ để mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế và mua vắc xin phòng Covid-19 (5,35 nghìn tỷ đồng) và hỗ trợ cho các địa phương 762 tỷ đồng. Chi 13,1 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ cho trên 13 triệu đối tượng gặp khó khăn do đại dịch, chủ yếu là người nghèo (gần 8 triệu người), đối tượng bảo trợ xã hội (gần 3 triệu người), người có công với cách mạng (hơn 1 triệu người) và 1,3 triệu lao động bị mất việc làm.

Nội dung 8: Về việc Bộ Tài chính tháo gỡ khó khăn cho địa phương trong việc cân đối, bố trí nguồn lực mua sắm trang thiết bị phòng, chống dịch Covid-19.

Trả lời: Ngày 12/05/2021, Bộ Tài chính có công văn số 4841/BTC-HCSN gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW để hướng dẫn về về nguồn kinh phí, cơ chế mua sắm trong điều kiện có dịch bệnh Covid-19 đối với phương tiện, trang thiết bị, hóa chất, vật tư, sinh phẩm phục vụ phòng, chống dịch Covid-19 (kèm theo), trên cơ sở đó, đề nghị các địa phương thực hiện việc quản lý kinh phí, mua sắm theo quy định.

Ban Biên tập

 

 

 

Tin cùng chuyên mục