Nâng cao hiệu quả hỗ trợ CNTT trong hệ thống kho bạc

(eFinance Online) - Xu thế tập trung hóa các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ các nghiệp vụ cốt lõi là xu hướng chung của tất cả các tổ chức, doanh nghiệp, nhằm cung cấp dịch vụ CNTT tốt nhất cho hoạt động nghiệp vụ, cung cấp kịp thời thông tin phục vụ điều hành, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính. Tại Chiến lược phát triển thông tin, tin học KBNN đến năm 2020 cũng đã xác định nội dung này.
Ảnh: PV.
Ảnh: PV.

Thực trạng công tác hỗ trợ CNTT ở kho bạc

Cho đến nay, phần lớn các chương trình ứng dụng cốt lõi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) như: Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), thanh toán điện tử song phương, thu ngân sách nhà nước... đều đã được triển khai cài đặt tập trung tại trung ương, người sử dụng (NSD) sử dụng chương trình thông qua hạ tầng truyền thông của Bộ Tài chính và KBNN. Công tác hỗ trợ CNTT của KBNN cũng vì vậy đang được tổ chức theo hướng tập trung ở trung ương, các yêu cầu hỗ trợ xuất phát từ NSD trên phạm vi toàn quốc có thể được gửi trực tiếp về đội hỗ trợ trung ương.

Thực hiện Quyết định số 1962/2015/QĐ-BTC ngày 28/09/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục CNTT thuộc KBNN, Cục CNTT được tổ chức thành 07 phòng chức năng gồm: Phòng phát triển ứng dụng, Phòng Quản trị hệ thống, Phòng Đảm bảo kỹ thuật, Phòng Hành chính tổng hợp, Phòng Quản lý dự án CNTT, Phòng Quản lý an ninh thông tin và Phòng Hỗ trợ CNTT.

Trong đó Phòng Hỗ trợ CNTT với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là chủ trì hỗ trợ NSD vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT trong hệ thống KBNN và các hệ thống ứng dụng CNTT dùng chung do Bộ Tài chính giao KBNN chủ trì, quản lý. Như vậy, Phòng hỗ trợ CNTT trở thành điểm giao tiếp duy nhất giữa NSD trên phạm vi toàn quốc với Cục CNTT trong quá trình tiếp nhận, xử lý các yêu cầu hỗ trợ và  hỗ trợ các hệ thống ứng dụng CNTT.

Đến thời điểm này, Phòng hỗ trợ CNTT có 24 cán bộ, thực hiện hỗ trợ vận hành khoảng 15.000 NSD với 22 chương trình ứng dụng khác nhau; hàng ngày tiếp nhận và xử lý từ 50 đến 100 yêu cầu hỗ trợ, những ngày cao điểm có thể lên tới trên 200 yêu cầu hỗ trợ một ngày. Công việc tiếp nhận, xử lý, chuyển mức và theo dõi quá trình xử lý của yêu cầu hỗ trợ hiện nay chủ yếu thực hiện thủ công theo quy trình phối hợp tại Quyết định số 69/2015/QĐ-CNTT ngày 21/01/2015 của Cục trưởng Cục CNTT về việc ban hành quy chế trách nhiệm và quy trình phối hợp giữa các phòng của Cục CNTT.

Trong thời gian qua, KBNN đã ban hành một số văn bản quy định/quy trình liên quan đến hỗ trợ, vận hành hệ thống CNTT như: Ngày 25/08/2011, Tổng Giám đốc KBNN đã ban hành Quyết định số 507/2011/QĐ-KBNN về việc ban hành quy trình vận hành chương trình quản lý yêu cầu (QLYC) hỗ trợ các phần mềm ứng dụng trong hệ thống KBNN. Ngày 20/05/2015, Cục trưởng cục CNTT đã ký Quyết định số 69/2015/QĐ-CNTT về việc ban hành quy chế trách nhiệm và quy trình phối hợp giữa các phòng của Cục CNTT trong công tác hỗ trợ CNTT.

Ưu điểm

Các yêu cầu hỗ trợ sau khi được chuyển lên đội hỗ trợ trung ương đã được cố gắng xử lý và phản hồi lại cho NSD trong thời gian sớm nhất có thể. Một số yêu cầu hỗ trợ khó đã được chuyển mức kịp thời để giải quyết.

Cụ thể, quy trình hỗ trợ đã được xây dựng bài bản, có tính khoa học đảm bảo thuận tiện trong quá trình vận hành công tác hỗ trợ. Cục CNTT phối hợp với Trường nghiệp vụ KBNN mở các khóa học về kỹ năng hỗ trợ từ cơ bản đến chuyên sâu, tạo điều kiện cho cán bộ hỗ trợ tiếp cận với kiến thức hỗ trợ mới, ý thức định hướng đúng về công tác hỗ trợ. Xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng đẩy đủ các bước xử lý trong quá trình phát sinh lỗi bao gồm lỗi kỹ thuật và lỗi từ NSD. Thường xuyên gửi danh sách lỗi do NSD thao tác không đúng quy trình đến các cán bộ tin học tỉnh để nhắc nhở tránh tình trạng lỗi lặp lại tương tự. Tài liệu chuyển giao hỗ trợ cho các cán bộ mới khi bắt đầu tiếp cần lĩnh vực được giao nhiệm vụ hỗ trợ dễ hiểu, đơn giản, thao tác rõ ràng, minh bạch tạo điều kiện để cán bộ tiếp cận nắm bắt các vấn đề hỗ trợ nhanh chóng, thuận tiện.

Có công cụ để ghi nhận các sự cố, các lỗi phát sinh hướng xử lý nhằm tiến tới tập trung hóa công tác hỗ trợ với NSD, là địa chỉ để NSD tra cứu các vấn đề đơn vị đang vướng mặc đã được xử lý trước đó, hoặc các thông báo từ đội hỗ trợ trung ương tới các đơn vị. Mặt khác, đây cũng là nơi để kết xuất các báo cáo về tình hình hỗ trợ, số lượng sự cố, số lỗi từ các đơn vị làm nguồn để báo cáo vận hành hệ thống hàng tuần, hàng tháng, quý.

Bên cạnh đó, KBNN đã xây dựng được đăng tin thông báo trên các ứng dụng khi có sự cố xảy ra tại các ứng dụng kế toán nội bộ (KTNB), thanh toán song phương (TTSP), thu ngân sách (TCS) để NSD nắm bắt thông tin kịp thời, các hướng dẫn xử lý, thời gian hoàn thành khắc phục lỗi nhằm đảm bảo thông tin lỗi được lan tỏa đến tất cả các kho bạc quận/huyện.

Cán bộ hỗ trợ trong mỗi lĩnh vực có sự đoàn kết, gắn bó, đào tạo lẫn nhau về kiến thức nghiệp vụ và kỹ thuật liên quan tạo điều kiện cho mặt bằng hỗ trợ trong mỗi nhóm được đồng đều, đàm bảo xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.

Hạn chế

Hiện nay phần lớn các yêu cầu hỗ trợ vận hành các phần mềm ứng dụng (gọi tắt là yêu cầu hỗ trợ) xuất phát từ NSD các cấp đều được gửi trực tiếp về Cục CNTT (Phòng Hỗ trợ CNTT), dẫn tới nhiều hạn chế: Khối lượng xử lý các yêu cầu hỗ trợ của trung ương rất lớn làm cho tiến độ và chất lượng xử lý yêu cầu không được như mong muốn. Các yêu cầu hỗ trợ không được xử lý bước đầu ở tỉnh, gây trùng lắp giữa các đơn vị trong tỉnh hoặc trên toàn quốc.

KBNN tỉnh không nắm bắt kịp thời tình hình vận hành các hệ thống CNTT trên địa bàn mình để có điều chỉnh, chỉ đạo phù hợp. Việc chỉ đạo về công tác vận hành các chương trình ứng dụng nhiều khi chưa kịp thời so với trước kia do thiếu “cánh tay nối dài”, thường trực trong hoạt động hỗ trợ NSD.

Khó khăn trong công tác nâng cao trình độ sử dụng các chương trình phần mềm cho NSD vì phòng tin học tỉnh không thể tổ chức đào tạo/tái đào tạo cho NSD trên địa bàn như giai đoạn trước đây. Vai trò của phòng tin học tỉnh không tương xứng với khối lượng công việc đang đảm trách, ít có điều kiện phát triển nghề nghiệp, nhiều tâm tư trong đội ngũ cán bộ.

Từ nay đến năm 2020, công việc hỗ trợ CNTT trong và ngoài ngành Tài chính sẽ tập trung về KBNN, do đó nếu với mô hình như hiện nay thì Cục CNTT sẽ ngày càng quá tải, trong khi đó lại không thể tăng thêm biên chế.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do công tác hỗ trợ CNTT hiện nay còn dàn trải giữa nhiều phòng, nhiều bộ phận. Trong đó các bộ phận chịu trách nhiệm xử lý mức cao lại còn nhiều việc khác nữa nên không giành trọn thời gian cho công tác hỗ trợ vận hành. Bên cạnh đó, công tác hỗ trợ hiện nay cũng chưa tận dụng được đội ngũ cán bộ CNTT cấp tỉnh. Trong khi lực lượng này được đào tạo khá bài bản và hoàn toàn có thể hỗ trợ được NSD những yêu cầu hỗ trợ đơn giản.

Ngoài ra một nguyên nhân khác là do KBNN chưa xây dựng được các quy trình quản lý CNTT và theo đó là đề ra được các giải pháp kỹ thuật tương ứng để phục vụ cho việc giám sát, hỗ trợ, quản lý các dịch vụ CNTT theo hướng tập trung, thống nhất.

Chính vì thế, chương trình quản lý yêu cầu cần được nâng cấp để khắc phục những điểm hạn chế nêu trên, hoặc mua sắm mới phần mềm chuẩn thương mại quốc tế chuyên về lĩnh vực quản lý vận hành dịch vụ CNTT, đảm bảo tính linh hoạt trong việc thiết lập hệ thống và kế thừa được những kinh nghiệm tổ chức công tác quản lý vận hành các dịch vụ CNTT của các nước tiên tiến trên thế giới.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ CNTT

Phân cấp công tác hỗ trợ CNTT: Giai đoạn 1: Thực hiện từ năm 2017. Đối với các phần mềm được triển khai cài đặt phân tán trên địa bàn, Phòng Tin học KBNN cấp tỉnh phải là đơn vị chịu trách nhiệm tiếp nhận, xử lý toàn bộ các yêu cầu hỗ trợ của NSD thuộc KBNN trên địa bàn. NSD không trực tiếp gửi yêu cầu hỗ trợ về đội hỗ trợ trung ương. Trường hợp không xử lý được, Phòng Tin học KBNN cấp tỉnh chuyển tiếp các yêu cầu đến đội hỗ trợ trung ương, theo dõi, đôn đốc tình hình xử lý, nhận kết quả và trả lời cho NSD.

Đối với các phần mềm ứng dụng tập trung toàn quốc, NSD các cấp của KBNN gửi yêu cầu hỗ trợ về địa chỉ tiếp nhận yêu cầu chung của KBNN. Bộ phận tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ của trung ương sẽ ghi nhận, phân loại và chuyển tiếp yêu cầu đến đội hỗ trợ trung ương để xử lý.

Giai đoạn 2: Thực hiện từ năm 2018. Phòng Tin học KBNN cấp tỉnh chịu trách nhiệm tiếp nhận, phân loại và xử lý đối với toàn bộ các yêu cầu hỗ trợ NSD các chương trình phần mềm ứng dụng phát sinh trên địa bàn. Trường hợp không xử lý được, Phòng Tin học KBNN cấp tỉnh chuyển tiếp các yêu cầu đến đội hỗ trợ trung ương, theo dõi, đôn đốc tình hình xử lý, nhận kết quả và trả lời cho NSD. Đối với các đơn vị thuộc cơ quan tài chính đồng cấp và các đơn vị quan hệ với ngân sách sử dụng chương trình TABMIS được chuyển về trung ương.Bộ phận tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ của trung ương sẽ ghi nhận, phân loại và chuyển tiếp yêu cầu đến đội hỗ trợ trung ương để xử lý.

Giai đoạn 3: Thực hiện từ năm 2019 trở đi. Toàn bộ các yêu cầu hỗ trợ CNTT, kể cả trong hay ngoài kho bạc (cơ quan tài chính đồng cấp, đơn vị quan hệ với ngân sách) sẽ do Phòng tin học KBNN tỉnh hỗ trợ. Đội hỗ trợ trung ương chỉ đảm nhiệm hỗ trợ các Bộ ngành, cơ quan trung ương và hỗ trợ mức 2 cho các tỉnh.

NSD các cấp, cả trong và ngoài kho bạc gửi yêu cầu hỗ trợ về địa chỉ tiếp nhận yêu cầu chung của KBNN. Bộ phận tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ của trung ương sẽ ghi nhận, phân loại và chuyển tiếp yêu cầu đến cán bộ quản trị ứng dụng của tỉnh có yêu cầu hỗ trợ để xử lý. Trường hợp không xử lý được, Phòng Tin học KBNN cấp tỉnh chuyển tiếp các yêu cầu đến đội hỗ trợ trung ương, theo dõi, đôn đốc tình hình xử lý, nhận kết quả và trả lời cho NSD.

Xây dựng các nhóm hỗ trợ chuyên biệt trong Phòng Hỗ trợ CNTT: Phòng Hỗ trợ CNTT chia thành 6 nhóm như sau: Nhóm Service Desk; Nhóm TABMIS; Nhóm Thanh toán; Nhóm Nội bộ; Nhóm Hỗ trợ máy trạm và dịch vụ hệ thống và Nhóm kỹ thuật.

Nhóm Service Desk: Tiếp nhận toàn bộ các yêu cầu hỗ trợ về CNTT trong và ngoài ngành Tài chính liên quan đến các hệ thống ứng dụng CNTT do KBNN quản lý, vận hành qua các kênh hỗ trợ như email hotrocntt@vst.gov.vn, hệ thống quản lý yêu cầu và kênh điện thoại trực tiếp vào số máy lẻ cơ quan của nhóm Service Desk. Phân loại và chuyển đúng đến cán bộ hỗ trợ mức 1 chịu trách nhiệm xử lý thuộc các nhóm của Phòng Hỗ trợ CNTT. Định kỳ theo dõi, đôn đốc và báo cáo lãnh đạo phòng tình hình xử lý các yêu cầu hỗ trợ của các nhóm thuộc phòng Hỗ trợ CNTT. Đề xuất cải tiến phương pháp, công cụ phục vụ công tác hỗ trợ. Chủ trì hướng dẫn các đơn vị, cá nhân tham gia sử dụng các hệ thống CNTT tuân thủ quy trình xử lý các sự cố phát sinh. Chủ trì xây dựng CSDL các tình huống hỗ trợ và phương án xử lý. Quản trị vận hành chương trình quản lý yêu cầu.

Nhóm TABMIS: Giám sát vận hành và hỗ trợ sử dụng TABMIS, kho dữ liệu TABMIS và chương trình tiện ích khai thác số liệu TABMIS.

Nhóm Thanh toán: Giám sát vận hành và hỗ trợ sử dụng các hệ thống: Thanh toán – thu NSNN (Bao gồm thanh toán song phương, thanh toán liên kho bạc, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán bù trừ và các hệ thống có liên quan); trao đổi thông tin thu NSNN và phối hợp thu NSNN; DMFAS.

Nhóm Nội bộ: Giám sát vận hành và hỗ trợ sử dụng các chương trình hỗ trợ tác nghiệp và quản trị nội bộ (Bao gồm KTNB, QLTS, Đăng ký tài sản, KTKB-ANQP, DMDC, Cấp mã QHNS, QLCB, BMS, KQKB, ĐTKB-LAN, THBC-ĐTKB-LAN, ĐTKB-WAN, dịch vụ công, chương trình giao dịch một cửa tại SGD).

Nhóm Hỗ trợ máy trạm và các dịch vụ hệ thống: Hỗ trợ vận hành máy trạm, máy in, thiết bị ngoại vi cho cơ quan KBNN trung ương (hệ điều hành, phần mềm hệ thống, anti virus, email, portal, các diễn đàn, edocman); tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ mạng, truyền thông và an toàn thông tin từ địa phương; quản trị các máy dùng chung của Phòng Hỗ trợ CNTT.

Nhóm kỹ thuật: Hỗ trợ kỹ thuật cho toàn bộ các nhóm công việc của Phòng Hỗ trợ CNTT. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và phát triển các công cụ phục vụ giám sát hệ thống, khai thác số liệu và quy trình hỗ trợ CNTT.

Xây dựng quy trình và tổ chức kiểm tra tình trạng sẵn sàng hoạt động của các hệ thống ứng dụng vào đầu giờ sáng làm việc: Phạm vi kiểm tra: 11 hệ thống ứng dụng CNTT đang vận hành tập trung tại KBNN và Sở giao dịch gồm: Hệ thống TABMIS, hệ thống quản lý thu ngân sách nhà nước (TCS-TT), hệ thống thanh toán điện tử liên kho bạc – T4 (TTLKB), hệ thống thanh toán điện tử liên kho bạc – T3 SGD (TTLKB), hệ thống kế toán an ninh – quốc phòng (KTKB-ANQP), hệ thống thanh toán song phương (TTSP), hệ thống quản lý tài sản (QLTS), hệ thống cổng thông tin (Portal), hệ thống hòm thư điện tử (Mail), kế toán nội bộ tập trung (KTNB), tổng hợp báo cáo đầu tư (THBC_ĐTKB-LAN), ứng dụng danh mục dùng chung KBNN (DMDC).

Thời gian thực hiện và báo cáo kết quả: Thực hiện từ 7h00 đến 7h30 hàng ngày làm việc trong tuần. Gửi báo cáo kết quả cho các lãnh đạo phòng và các trưởng nhóm trước 7h45 hàng ngày. Trường hợp phát sinh lỗi đăng nhập hệ thống, cán bộ trực giám sát thông báo bằng điện thoại cho trưởng nhóm ứng dụng đó biết để xử lý hoặc phối hợp với cán bộ kỹ thuật xử lý kịp thời.

Sửa đổi quy chế trách nhiệm và quy trình phối hợp giữa các phòng thay thế Quyết định số 69/QĐ-CNTT: Đối với công tác hỗ trợ xử lý sự cố CNTT: Phòng Hỗ trợ CNTT tổ chức tiếp nhận toàn bộ các yêu cầu hỗ trợ CNTT từ các đơn vị trong hệ thống KBNN; từ các đơn vị trong và ngoài ngành Tài chính trong quá trình sử dụng các hệ thống ứng dụng CNTT của ngành Tài chính theo quy định của Bộ Tài chính.

Đối với công tác quản lý lỗi và đề xuất trong quá trình hỗ trợ: Phòng Hỗ

trợ CNTT phối hợp với các phòng có liên quan thuộc Cục CNTT thực hiện phân tích, đánh giá và xác định sự cố CNTT. Trường hợp xác định sự cố CNTT là lỗi, Phòng Hỗ trợ CNTT ghi nhận quản lý lỗi, chuyển yêu cầu xử lý lỗi và theo dõi tiến trình xử lý của phòng chịu trách nhiệm xử lý lỗi. Trường hợp là đề xuất phát sinh trong quá trình hỗ trợ: Phòng Hỗ trợ CNTT - Cục CNTT (KBNN) chủ trì tổng hợp đề xuất, định kỳ hàng tháng gửi các phòng có liên quan.

Đối với công tác quản lý cập nhật ứng dụng CNTT: Phòng Hỗ trợ CNTT đảm bảo ghi chép đầy đủ các hoạt động làm thay đổi các chức năng của các ứng dụng CNTT, thiết kế hệ thống, cấu hình hệ thống máy móc thiết bị, mạng, truyền thông, hệ điều hành, cơ sở dữ liệu, bảo mật đối với môi trường sản xuất của các hệ thống ứng dụng CNTT.

Đối với công tác cập nhật CSDL tri thức: Phòng Hỗ trợ CNTT chủ trì tổ chức biên tập, cập nhật cơ sở dữ liệu tri thức. Trường hợp các yêu cầu hỗ trợ chưa có trong cơ sở dữ liệu (CSDL) tri thức, Phòng Hỗ trợ CNTT chủ trì phối hợp với các phòng có liên quan của Cục CNTT để biên tập, cập nhật CSDL tri thức.

Đối với công tác giám sát, quản trị, vận hành các chương trình phần mềm ứng dụng: Phòng Phát triển ứng dụng có trách nhiệm chủ trì xây dựng, cập nhật quy trình quản trị, vận hành các chương trình phần mềm nghiệp vụ phần mềm dùng chung; thống nhất nội dung thông tin phục vụ công tác giám sát quản trị vận hành với Phòng Hỗ trợ CNTT.

Đối với công tác quản lý, vận hành các hệ thống mạng, máy chủ, truyền thông, an toàn bảo mật, hệ điều hành, intranet, cơ sở dữ liệu, hệ thống lưu trữ: Phòng Quản trị hệ thống, Phòng Quản lý an ninh thông tin có trách nhiệm chủ trì xây dựng, cập nhật quy trình quản trị, vận hành đối với các công việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, thống nhất kế hoạch, nội dung quản trị vận hành với Phòng Hỗ trợ CNTT và các phòng có liên quan.

Đối với công tác quản lý, vận hành thiết bị CNTT trong trung tâm dữ liệu: Phòng Quản trị hệ thống có trách nhiệm chủ trì xây dựng, cập nhật quy trình quản trị, vận hành các hệ thống nêu trên, thống nhất kế hoạch, nội dung quản trị vận hành với Phòng Hỗ trợ CNTT và các phòng có liên quan.

Sửa đổi quy trình vận hành chương trình quản lý yêu cầu hỗ trợ các phần mềm ứng dụng thay thế cho Quyết định số 507/QĐ-KBNN: Bước 1: Cán bộ trực tiếp sử dụng CNTT (cả tại huyện và tỉnh) hoặc cán bộ làm CNTT chuyên trách của KBNN tỉnh/quận/huyện điền thông tin vào phiếu yêu cầu hỗ trợ.

Bước 2: Cán bộ phòng tin học tỉnh thực hiện tiếp nhận, phân loại yêu cầu/sự cố và xử lý. Trường hợp bước 2 không xử lý được thì chuyển đến bước 3.

Bước 3: Cán bộ phòng Hỗ trợ CNTT thực hiện tiếp nhận, phân loại yêu cầu/sự cố và xử lý. Trường hợp bước 3 không xử lý được thì chuyển đến bước 4.

Bước 4: Cán bộ các phòng chức năng, chuyên môn thuộc  Cục CNTT thực hiện tiếp nhận, phân loại yêu cầu/sự cố và xử lý. Trường hợp bước 4 không xử lý được thì chuyển đến bước 5.

Bước 5: Chuyên gia thực hiện tiếp nhận, xử lý yêu cầu/sự cố.

Thuê ngoài hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến: Phòng Hỗ trợ CNTT hiện nay chỉ có thể đáp ứng yêu cầu hỗ trợ của người dùng trong hệ thống KBNN, không thể đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ của hàng trăm nghìn đơn vị quan hệ ngân sách (QHNS) khi triển khai rộng hệ thống dịch vụ công, bởi còn phải đảm nhận việc hỗ trợ vận hành các ứng dụng khác trong hệ thống KBNN.

Ngoài ra, khi triển khai diện rộng dịch vụ công trên toàn quốc thì khối lượng hỗ trợ rất lớn và cần phải hỗ trợ ngoài giờ hành chính đối với các đơn vị QHNS, trong khi cán bộ KBNN không thể đáp ứng điều này.

Thêm vào đó, việc hỗ trợ các đơn vị QHNS từ xa như vậy sẽ đòi hỏi phải có những công cụ truy cập từ xa dạng như Team View, trong khi theo chính sách an toàn thông tin của KBNN cũng không cho phép sử dụng các công cụ này.

Chính vì thế, giải pháp được đặt ra là tận dụng nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao sẵn có của những nhà cung cấp dịch vụ CNTT thông qua phương án thuê ngoài dịch vụ CNTT (ITO) hỗ trợ người dùng ngoài hệ thống kho bạc sử dụng dịch vụ công trực tuyến 24/24 giờ trong cả năm kể cả ngày nghỉ, ngày lễ.

Một số giải pháp khác:  Xây dựng và chia sẻ trên toàn quốc cơ sở dữ liệu tri thức, bao gồm các tình huống hỗ trợ đã phát sinh, nguyên nhân và cách thức xử lý. Đào tạo cho đội ngũ cán bộ Tin học tỉnh trong công tác hỗ trợ và khai thác số liệu từ các ứng dụng tập trung.

Tin học hóa công tác hỗ trợ CNTT: Năm 2016, KBNN bắt đầu chuẩn bị đầu tư dự án “Tăng cường năng lực quản trị vận hành hệ thống CNTT KBNN”, trong đó có phạm vi nâng cấp chương trình quản lý yêu cầu cho phù hợp với quy trình hỗ trợ mới, dự kiến đến nửa cuối năm 2017 có thể triển khai được hệ thống này.

Thành Quang

Tin cùng chuyên mục